Tiêu chuẩn ISO 45001:2018 có tất cả 10 điều khoản theo cấu trúc bậc cao. Dưới đây là nội dung chi tiết của ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
ISO 45001:2018 – Điều khoản 5: Sự lãnh đạo và sự tham gia của người lao động
Mục lục
6.1. Hành động giải quyết rủi ro và cơ hội trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
6.1.1. Khái quát
Khi hoạch định hệ thống quản lý ATSKNN, tổ chức phải xem xét các vấn đề được đề cập tại 4.1 (bối cảnh), các yêu cầu được đề cập tại 4.2 (bên quan tâm), và 4.3 (phạm vi của hệ thống quản lý ATSKNN) và xác định các rủi ro và cơ hội cần được giải quyết để:
- a) Đảm bảo hệ thống quản lý ATSKNN có thể đạt được các kết quả dự kiến
- b) Ngăn ngừa hoặc giảm các tác động không mong muốn;
- c) Đạt được cải tiến liên tục.

Khi xác định các rủi ro và cơ hội đối với hệ thống quản lý ATSKNN theo tiêu chuẩn ISO 45001:2018 và các kết quả dự kiến cần được giải quyết, tổ chức phải tính đến:
- Các nguy cơ (xem 6.1.2.1);
- Rủi ro ATSKNN và rủi ro khác (xem 6.1.2.2)
- Cơ hội ATSKNN và cơ hội khác (xem 6.1.2.3);
- Yêu cầu pháp luật và yêu cầu khác (xem 6.1.3);
Trong quá trình hoạch định, tổ chức phải xác định và đánh giá rủi ro và cơ hội liên quan tới các kết quả dự kiến của hệ thống quản lý ATSKNN, liên quan tới các thay đổi trong tổ chức, các quá trình của tổ chức, hoặc hệ thống quản lý ATSKNN. Trong trường hợp có các thay đổi đã được hoạch định , lâu dài hoặc tạm thời , việc đánh giá này phải được thực hiện trước khi thực hiện việc thay đổi (xem 8.1.3).
Tổ chức phải duy trì thông tin dạng văn bản trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6 về:
- Rủi ro và cơ hội;
- (Các) quá trình và hành động cần thiết để xác định và giải quyết các rủi ro và cơ hội (xem từ 6.1.2 đến 6.1.4) ở mức độ cần thiết để có sự tin cậy rằng các quá trình đã được thực hiện như đã hoạch định.
Diễn giải:
Hoạch định không phải là sự kiện đơn lẻ mà là một quá trình liên tục, dự đoán hoàn cảnh thay đổi và thường xuyên xác định các rủi ro và cơ hội cho cả người lao động và hệ thống quản lý ATSKNN. Việc hoạch định xem xét mối quan hệ và tương tác giữa các hoạt động và các yêu cầu đối với toàn bộ hệ thống quản lý.
Hướng dẫn áp dụng
Các ảnh hưởng không mong muốn có thể bao gồm chấn và bệnh tật liên quan đến công việc, sự không tuân thủ các yêu cầu pháp luật và yêu cầu khác, hoặc tổn hại đến uy tín của tổ chức.
Cơ hội ATSKNN đề cập đến việc nhận biết nguy cơ, cách thức. chủng được trao đổi thông tin, và việc phân tích và giảm nhẹ các nguy cơ được nhận biết. Các cơ hội khác đề cập đến chiến lược cải tiến hệ thống.
Ví dụ về các cơ hội để cải tiến kết quả thực hiện ATSKNN trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6:
- a) Chức năng đánh giá và kiểm tra;
- b) Phân tích nguy cơ công việc (phân tích an toàn công việc) và đánh giá công việc;
- c) Cải tiến kết quả thực hiện ATSKNN bằng cách giảm bớt công việc đơn điệu hoặc công việc có nguy cơ đã được xác định trước;
- d) Cấp phép làm việc và thừa nhận khác và phương pháp kiểm soát;
- e) Điều tra sự cố hay sự không phù hợp và hành động khắc phục:
- f) Đánh giá éc – gô – nô – mi và phòng ngừa chấn thương.
Ví dụ về các cơ hội khác để cải tiến kết quả thực hiện ATSKNN trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6:
Tích hợp các yêu cầu ATSKNN vào giai đoạn sớm nhất trong vòng đời của cơ sở vật chất, thiết bị hay quá trình khi hoạch định việc sắp xếp lại cơ sở vật chất, thiết kế lại quá trình hoặc thay thế máy móc và nhà máy,
- Tích hợp các yêu cầu ATSKNN vào giai đoạn sớm nhất của việc hoạch định sắp xếp lại cơ sở vật chất, thiết kế lại quá trình hoặc thay thế máy móc và nhà máy,
- Sử dụng công nghệ mới để cải tiến kết quả thực hiện ATSKNN;
- Cải thiện văn hóa ATSKNN thông qua việc nâng cao năng lực liên quan đến ATSKNN vượt xa hơn các yêu cầu hoặc khuyến khích người lao động báo cáo sự cố kịp thời;
- Nâng cao tầm nhìn của đạo cao nhất quản lý ATSKNN;
- Nâng cao (các) quá trình điều tra sự cố;
- Cải tiến (các) quá trình tham vấn và tham gia của người lao động;
- Thực hiện việc đối sánh, bao gồm cả việc xem xét kết quả thực hiện trong quá khứ của tổ chức và của các tổ chức khác;
- Hợp tác trong các diễn đàn về các chủ đề giải quyết ATSKNN.
6.1.2. Nhận diện nguy cơ và đánh giá rủi ro và cơ hội trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
6 .1.2.1. Nhận diện nguy cơ trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
Tổ chức phải thiết lập, thực hiện và duy trì (các) quá trình nhận diện nguy cơ một cách liên tục và chủ động. (Các) Quá trình này phải tính đến, nhưng không giới hạn ở:
- a) Cách thức tổ chức công việc, các yếu tố xã hội (bao gồm khối lượng công việc, giờ làm việc, xử phạt, quấy rối và đe dọa), sự lãnh đạo và văn hóa trong tổ chức;
- b) Các tình huống, hoạt động thường xuyên và không thường xuyên, bao gồm các nguy cơ phát sinh từ:
1) Cơ sở hạ tầng, thiết bị, nguyên vật liệu, vật chất và điều kiện vật lý của nơi làm việc;
2) Thiết kế, nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, sản xuất, lắp rắp, xây dựng, cung cấp dịch vụ, bảo trì hoặc hủy bỏ sản phẩm và dịch vụ,
3) Yếu tố con người;
4) Cách thức thực hiện công việc;
- c) Sự cố có liên quan đã xảy ra, nội bộ hoặc bên ngoài tổ chức, kể cả các tình huống khẩn cấp và nguyên nhân của chúng;
- d) Tình huống khẩn cấp tiềm ẩn;
- c) Con người, bao gồm việc xem xét:
1) Những người tiếp cận nơi làm việc và hoạt động của họ, kể cà người lao động, nhà thầu, khách thăm quan và những người khác,
2) Những người lân cận nơi làm việc có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của tổ chức;
3) Người lao động tại địa điểm không thuộc kiểm soát trực tiếp của tổ chức ;
- f) Các vấn đề khác, bao gồm việc xem xét:
1) Thiết kế khu vực làm việc, các quá trình, lắp đặt, máy móc / thiết bị, quy trình vận hành và tổ chức công việc, kể cả sự thích ứng của chúng với nhu cầu và khả năng của người lao động có liên quan;
2) Các tình huống xảy ra gần nơi làm việc gây ra do các hoạt động liên quan đến công việc dưới sự kiểm soát của tổ chức;
3) Các tình huống không được tổ chức kiểm soát và xảy ra lân cận nơi làm việc mà có thể gây chấn thương và bệnh tật cho con người tại nơi làm việc;
- g) Thay đổi thực tế hoặc được đề nghị trong tổ chức, vận hành, quá trình, hoạt động và hệ thống quản lý ATSKNN (xem 8.1.3);
- h) Thay đổi về kiến thức và thông tin về các nguy cơ.
Diễn giải
Nhận diện nguy cơ giúp tổ chức nhìn nhận và hiểu các mối nguy hiện hữu hoặc tiềm ẩn tại nơi làm việc và đối với người lao động, nhằm đánh giá, ưu tiên và loại bỏ các nguy cơ hoặc giảm rủi ro ATVSLĐ.
Hướng dẫn áp dụng
Việc nhận diện nguy cơ mang tính chủ động, bắt đầu từ giai đoạn thiết kế ý tưởng xây dựng nhà máy, nơi làm việc, sản phẩm, công nghệ mới. Việc này cần phải được thực hiện ngay cả khi các ý tưởng đó bắt đầu được thực hiện cũng như trong suốt cả vòng đời và phải luôn được điều chỉnh đáp ứng các thay đổi trong thực tế.
Các nguy cơ có thể là nguy cơ về vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý, cơ khí, điện hoặc dựa vào cơ cấu chuyển động và năng lượng. Danh sách được nêu tại 6.1.2.1 là không đầy đủ.
CHÚ THÍCH: Việc đánh số các hạng mục liệt kê sau đây từ a) đến t) không tương ứng chính xác với việc đánh số hạng mục liệt kê tại 6.1.2.1. (Các) quá trình nhận diện nguy cơ của tổ chức cần cân nhắc:
- a) Hoạt động và tình huống thường xuyên và không thường xuyên:
1) Các hoạt động và tình huống thường xuyên tạo ra các nguy cơ thông qua hoạt động hàng ngày và các hoạt động công việc thông thường;
2) Các hoạt động và tình huống không thường xuyên là thỉnh thoảng hoặc đột xuất (ví dụ khi tháo dỡ, sửa chữa, xây dựng trong khu vực đang làm việc, khởi động lại dây chuyền sau thời gian nghỉ …);
Lưu ý là các hoạt động ngắn hạn và dài hạn có thể tạo ra các nguy cơ khác nhau;
- b) Yếu tố con người
1) Liên quan tới khả năng, hạn chế và các đặc điểm khác của con người (ví dụ giới hạn nâng vác vật nặng, cận thị, ngễnh ngãng, sợ độ cao …);
2) Thông tin cần được áp dụng đối với các công cụ, máy móc, hệ thống, hoạt động và môi trường cho việc sử dụng an toàn, thuận lợi cho con người;
3) Cần đề cập đến ba khía cạnh: hoạt động, người lao động và tổ chức, và cách thức các khía cạnh này tương tác với và ảnh hưởng đến ATVSLĐ.
- c) Nguy cơ mới hoặc bị thay đổi:
1) Có thể xuất hiện khi quá trình công việc bị hư hỏng, điều chỉnh, thích ứng hoặc phát triển là do kết quả của sự quen thuộc hoặc hoàn cảnh thay đổi;
2) Hiểu cách thức công việc được thực hiện thực tế (ví dụ quan sát và thảo luận về nguy cơ với người lao động) có thể nhận biết được các rủi ro ATVSLĐ gia tăng hoặc giảm đi;
- d) Tình huống khẩn cấp tiềm ẩn:
1) Tình huống đột xuất hoặc ngoài kế hoạch đòi hỏi phải ứng phó ngay lập tức (ví dụ một cái máy bị cháy tại nơi làm việc, hoặc một thảm họa thiên nhiên trong khu lân cận của nơi làm việc hoặc tại địa điểm nào đó nơi người lao động đang thực hiện các hoạt động công việc, tình trạng dịch bệnh …);
2) Bao gồm các tình huống như bất ổn về dân sự tại một nơi mà người lao động đang thực hiện các hoạt động công việc mà yêu cầu phải sơ tán khẩn cấp;
- e) Con người:
1) Những người trong khu vực lân cận của nơi làm việc có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của tổ chức (ví dụ người qua lại, nhà thầu hoặc láng giềng liền kề);
2) Những người lao động tại một địa điểm không thuộc sự kiểm soát trực tiếp của tổ chức như người lao động không cố định hay người lao động đi lại để thực hiện các hoạt động công việc tại địa điểm khác (ví dụ nhân viên bưu chính, tài xế xe buýt, nhân viên ở ch vụ đi đến và làm việc tại cơ sở của khách hàng);
3) Người lao động tại gia, hoặc những người làm việc một mình.
- f) Thay đổi kiến thức và thông tin về các nguy cơ:
1) Nguồn kiến thức, thông tin và hiểu biết mới về các nguy cơ có thể bao gồm tài liệu xuất bản, nghiên cứu và phát triển, phản hồi từ người lao động, và việc xem xét kinh nghiệm hoạt động của chính tổ chức.
2) Các nguồn này có thể cung cấp thông tin mới về các nguy cơ và rủi ro ATSKNN.
6.1.2.2 Đánh giá rủi ro ATSKNN và rủi ro khác đối với hệ thống quản lý ATSKNN “Tổ chức phải thiết lập, thực hiện và duy trì (các) quá trình để:
- a) Đánh giá rủi ro ATSKNN từ các nguy cơ đã nhận diện, có tính đến hiệu lực của các kiểm soát hiện có;
- b) Xác định và đánh giá các rủi ro khác liên quan đến việc thiết lập, thực hiện, vận hành và duy trì hệ thống quản lý ATSKNN.
(Các) phương pháp và chuẩn mực đánh giá các rủi ro ATSKNN của tổ chức phải được xác định về phạm vi, tính chất và thời gian để đảm bảo chúng có tính chủ động hơn là phản ứng lại và được sử dụng một cách hệ thống. Phải duy trì và lưu giữ thông tin dạng văn bản về (các) phương pháp và chuẩn mực đánh giá.
Diễn giải
Rủi ro thường được xác định là sự kết hợp của khả năng xảy ra một mối nguy và hậu quả (tác động của nó). Tuy nhiên, nguồn lực của mọi tổ chức là giới hạn nên phải xác định các ưu tiên. Đánh giá rủi ro là việc sử dụng các phương pháp nhất quán mà tổ chức tự xác định nhằm dự kiến các rủi ro và mức độ của chúng để từ đó có các biện pháp xử lý thích hợp theo các ưu tiên.
Hướng dẫn áp dụng
Một tổ chức có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá rủi ro ATSKNN như một phần chiến lược tổng thể của mình đối với việc giải quyết các nguy cơ hoặc hoạt động khác nhau. Phương pháp và tính phức tạp của việc đánh giá không chỉ phụ thuộc vào quy quan đến các mô của tổ chức, mà còn phụ thuộc vào các nguy cơ liên hoạt động của tổ chức. Các rủi ro khác đối với hệ thống quản lý ATSKNN cũng cần được đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp thích hợp.
Quá trình đánh giá rủi ro đối với hệ thống quản lý ATSKNN cần xem xét các hoạt động và quyết định hàng ngày (ví dụ các đỉnh điển trong chuỗi công việc, hoặc tái cơ cấu) cũng như các vấn đề bên ngoài (ví dụ thay đổi kinh tế). Phương pháp luận có thể bao gồm tham vấn thực tế của người lao động bị ảnh hưởng bởi các hoạt động hàng ngày (ví dụ thay đổi về khối lượng công việc), theo dõi và trao đổi thông tin về các yêu cầu pháp luật và yêu cầu khác mới (ví dụ cải cách, sửa đổi quy định pháp luật về thỏa ước lao động tập thể liên quan đến ATSKNN), và đảm bảo các nguồn lực đáp ứng các nhu cầu hiện có và thay đổi (ví dụ đào tạo, mua sắm thiết bị được cải tiến mới hay nguồn cung cấp mới.
Tiêu chuẩn ISO 31000 có thể là một nguồn tham khảo hữu ích để đánh giá và quản lý rủi ro.
6.1.2.3. Đánh giá cơ hội ATSKNN và cơ hội khác đối với hệ thống quản lý ATSKNN trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
Tổ chức phải thiết lập, thực hiện và duy trì (các) quá trình để đánh giá:
- a) Cơ hội ATSKNN để nâng cao kết quả thực hiện ATSKNN, có tính đến các thay đổi đã hoạch định đối với tổ chức, chính sách, quá trình hoặc hoạt động của tổ chức và
1) Cơ hội để thích nghi với công việc, tổ chức công việc và môi trường làm việc đối với người lao động;
2) Cơ hội để loại bỏ nguy cơ và giảm các rủi ro ATSKNN;
- b) Cơ hội khác để cải tiến hệ thống quản lý ATSKNN.
CHÚ THÍCH: Rủi ro và cơ hội về ATSKNN có thể dẫn đến rủi ro và cơ hội khác đối với tổ chức.
Diễn giải
Mọi hệ thống đều được vận hành bởi các cá nhân và để hệ thống được vận hành một cách trơn tru, đúng mục đích, các cá nhân ở mỗi vị trí cần có năng lực thích hợp.
Hướng dẫn áp dụng
Năng lực cá nhân được hình thành trên cơ sở đào tạo, kinh nghiệm, làm việc, trải nghiệm của bản thân, các khả năng và kỹ năng 20 nghiệm cá nhân. Các yếu tố đó có thể được thường xuyên bồi đắp trong quá trình làm việc.
Khi xác định năng lực của từng vị trí công việc, tổ chức cần quan tìm tới trách nhiệm, quyền hạn của vị trí đó, năng lực công nghệ, cơ sở vật chất, môi trường làm việc mà tổ chức có thể cung cấp cho vị trí đó, yêu cầu pháp luật, kiến thức và nhận thức chung của tổ chức về mối nguy hiểm của công việc đó. Đào tạo gồm đào tạo chuyên môn ở các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, đào tạo bổ sung bởi các khóa ngắn hạn, đào tạo tại chỗ, thông qua kèm cặp … Đối với công tác an toàn lao động, cần chú ý tới các quy định pháp luật về các nội dung đào tạo bắt buộc cho người lao động, người dụng lao động và người quản lý. Tham khảo văn bản quy phạm pháp luật nêu trong Phụ lục 1. Khả năng của cá nhân thường liên quan đến các yếu tố về sức khóc, thể lực, thể hình, tính cách.
Một số công việc nặng nhọc như khuân vác đòi hỏi phải có thể lực, thể hình phù hợp. Một số công việc đòi hỏi thị lực tốt, chẳng hạn công nhân kiểm tra ngoại quan. Công phần xây dựng làm việc trên cao đòi hỏi không mắc bệnh về tiền đình, sợ độ cao. Việc áp dụng công nghệ, công cụ hỗ trợ có thể giúp khắc phục các yếu tố này trong một số trường hợp (ví dụ dụng cụ nâng hạ CAO Vay …).
Một số công việc có nguy cơ cao có thể đòi hỏi phải bố trí người có tính cách cẩn thận. Khi bố trí lao động phù hợp với các đặc biệt về sức khỏe, tổ chức cần hết sức chú ý để tránh sự kỳ thị.
Các yêu cầu khác là yêu cầu của các bên quan tâm có liên tức những bên được / bị ảnh hưởng bởi hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức. Các bên này gồm người sở hữu doanh nghiệp (như các cô đông), cơ quan cấp trên (như đối với các doanh nghiệp nhà nước), khách hàng, chủ đầu tư, người lao động, người làm việc cho tổ chức (đối tác, nhà thầu) …
Mọi tổ chức phải có nghĩa vụ chủ động tiếp cận, nắm bắt, hiểu yêu cầu pháp luật và các yêu cầu khác có liên quan trực tiếp tới hoạt động của mình. Tổ chức phải xem xét, đánh giá và xác định trong số các yêu cầu đó những yêu cầu nào mình cần tuân thủ. Đó có thể là các yêu cầu theo nghĩa vụ (yêu cầu pháp luật, yêu cầu của chủ đầu tư, yêu cầu của chủ doanh nghiệp …) và các yêu cầu mà tổ chức xác định là mình có thể tuân thủ (chẳng hạn như yêu cầu cao hơn yêu cầu luật định mà tổ chức thấy rằng nếu tuân thủ sẽ tạo ra hình ảnh tốt của tổ chức).
Các yêu cầu đã được tổ chức xác định là bắt buộc và các yêu cầu mà tổ chức tự nguyện áp dụng sẽ trở thành nghĩa vụ tuân thủ và tổ chức sẽ triển khai thành các hành động cụ thể nhằm đáp ứng các yêu cầu đó. Đây là một quá trình thường xuyên, liên tục.
Hướng dẫn áp dụng
Một số tổ chức lớn có bộ phận pháp chế chuyên trách về việc tiếp cận, xem xét yêu cầu pháp luật, yêu cầu khác và rà soát biện pháp nội bộ của tổ chức để xác định biện pháp đáp ứng. Một số tổ chức khác có thể sử dụng cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm phụ trách vấn đề này. Một lựa chọn khác là sử dụng tư vấn pháp luật chuyên nghiệp cho từng lĩnh vực.
Các yêu cầu pháp luật và các yêu cầu khác có thể dễ dàng truy cập thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Phụ lục 1 và Phụ lục 2 cung cấp ví dụ về các văn bản quy phạm pháp luật và các quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến an toàn lao động, sức khỏe nghề nghiệp, có thể được sử dụng như điểm khởi đầu cho quá trình cập nhật. Mặc dù tiêu chuẩn không nêu cụ thể về cách thức duy trì thông tin dạng văn bản, tuy nhiên một danh mục các yêu cầu pháp luật và yêu cầu khác là một hình thức tốt và phổ biến để kiểm soát tốt yêu cầu này của tiêu chuẩn. Danh mục này cũng sẽ hỗ trợ tốt cho việc đánh giá sự tuân thủ (Điều 9.1.2).
Việc tiếp cận các yêu cầu pháp luật và yêu cầu khác nên được thực hiện theo định kỳ (ví dụ hàng tuần / tháng) và ngay khi có thông tin về một yêu cầu mới hay yêu cầu sửa đổi
Khi đã tiếp cận yêu cầu, điều quan trọng là phân tích mức độ áp dụng của yêu cầu đó (bắt buộc hay tham khảo) và xem xét lại thực tế đang áp dụng tại tổ chức để quyết định xem cần làm gì tiếp theo. Việc này có thể dẫn tới việc sửa đối chính sách, quy trình vận hành, đầu tư mới, đào tạo bổ sung, hay thậm chí điều chỉnh cơ cấu tổ chức… Tổ chức có thể cân nhắc các ưu tiên dựa trên tính cấp thiết của việc đáp ứng yêu cầu.
Việc trao đổi thông tin gồm trao đổi nội bộ và trao đổi với bên ngoài (xem thêm Điều 7.4).
6.1.4. Hoạch định hành động trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
Tổ chức phải hoạch định:
- a) Các hành động để:
1) Giải quyết các rủi ro và cơ hội (xem 6.1.2.2 và 6.1.2.3);
2) Giải quyết các yêu cầu pháp luật và yêu cầu khác (xem 6.1.3);
3) Chuẩn bị và ứng phó các tình huống khẩn cấp (xem 8.2);
- b) Cách thức để:
1) Tích hợp và thực hiện các hành động này vào các quá trình của hệ thống quản lý ATSKNN hoặc các quá trình hoạt động chủ chốt khác;
2) Đánh giá hiệu lực của các hành động này.
Tổ chức phải tính đến hệ thống các kiểm soát (xem 8.1.2) và đầu ra của hệ thống quản lý ATSKNN khi hoạch định thực hiện hành động. Khi hoạch định các hành động , tổ chức phải xem xét thực hành tốt nhất, lựa chọn công nghệ, các yêu cầu về hoạt động chủ chốt, tài chính và tác nghiệp.
Diễn giải
Sau khi đã xác định và sắp xếp các ưu tiên cho các rủi ro và cơ hội, tổ chức cần xác định các hành động cần thực hiện nhằm ứng phó, hay còn gọi là xử lý, với từng rủi ro và cơ hội đó để thực hiện một cách nhất quán.
6.2. Mục tiêu ATSKNN và hoạch định để đạt mục tiêu trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
6.2.1. Mục tiêu ATSKNN trong ISO 45001:2018 – Điều khoản 6
Tổ chức phải thiết lập các mục tiêu ATSKNN tại các cấp và bộ phận chức năng liên quan để duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý ATSKNN và kết quả thực hiện ATSKNN (xem 10.3): Các mục tiêu ATSKNN phải:
- a) Nhất quán với chính sách ATSKNN;
- b) Đo lường được (nếu có thể, hoặc có khả năng đánh giá kết quả thực hiện;
- c) Có tính đến:
1) Các yêu cầu được áp dụng:
2) Kết quả của việc đánh giá rủi ro và cơ hội (xem 6.1.2.2 và 6.1.2.3);
3) Kết quả của của việc tham vấn người lao động (xem 5.4) và đại diện người lao động, nếu có;
- d) Được theo dõi
- e) Được trao đổi thông tin;
- f) Được cập nhật khi thích hợp.
Diễn giải
Mục tiêu là những điều cần đạt được trong một khoảng thời gian cụ thể nhằm thực hiện chính sách của tổ chức. Hướng dẫn áp dụng Người ta thường dùng chữ SMART để mô tả các nguyên tắc thiết lập mục tiêu.
Đó là:
- Specific (S): mục tiêu phải cụ thể, rõ ràng (không chung chung như chính sách, tức là phải nêu được những vấn đề cụ thể, thể hiện rõ muốn đạt được điều gì, ví dụ mục tiêu về tai nạn lao động nặng, về số 71 ngày nghỉ do tai nạn, về sự cố cháy nổ…
- Measurable (M): mục tiêu phải đo được, thường là bằng các chi số cụ thể. Chẳng hạn số giờ (ngày) không có tai nạn lao động nghiêm trọng, giảm (ví dụ 10 %) số ngày nghỉ do tai nạn so với năm trước .
- Achieavable (A): mục tiêu phải thể hiện rõ mong muốn cải tiến, nhưng phải mang tính khả thi. Hãy cân nhắc về các chỉ tiêu tổ chức muốn đặt ra, có tính tới nguồn lực hiện tại.
- Relevant (R): mục tiêu phải sát thực tế, mang tính đặc thù cho ngành nghề của tổ chức, hoạt động của bộ phận … Chẳng hạn một công ty khai thác khoáng sản nên có những mục tiêu như không để xảy ra sự cố sập hầm mỏ, trong khi một công ty sản xuất cơ khí sẽ không có những mục tiêu như vậy. Hay như một công ty nhỏ, không tổ chức ăn trưa (ăn cay cho người lao động thì không cần phải đặt ra mục tiêu không xảy ra ngộ độc thực phẩm.
- Timebound (T): mục tiêu phải được hạn định trong một khoảng thời gian nhất định. Thông thường người ta hay đặt mục tiêu hàng năm. Tuy nhiên, cũng có thể có những mục tiêu dài hoặc ngắn hơn.
6.2.2. Hoạch định để đạt được mục tiêu ATSKNN
Khi hoạch định cách thức để đạt được các mục tiêu ATSKNN, tổ chức phải xác định:
- a) Những gì sẽ được thực hiện;
- b) Nguồn lực gì được yêu cầu;
- c) Ai là người chịu trách nhiệm;
- d) Khi nào mục tiêu được hoàn thành;
- e) Cách thức để đánh giá các kết quả, bao gồm các chỉ số để theo dõi
- f) Cách thức hành động để đạt được các mục tiêu ATSKNN sẽ được tích hợp vào các quá trình hoạt động quan trọng của tổ chức
Tổ chức phải duy trì và lưu giữ thông tin dạng văn bản về các mục tiêu ATSKNN và kế hoạch để đạt được các mục tiêu.
Diễn giải
Để đảm bảo tính khả thi, mục tiêu ATSKNN đòi hỏi phải được song hành bởi (các) kế hoạch cụ thể, mang tính thực tế.






